Phạm Hồng Lam
29-4-2026
Có những từ ngữ, những khái niệm nhiều người dùng một cách đương nhiên. Chẳng ai cần quan tâm tới nội dung ý nghĩa của chúng, vì xem ra đã rõ! Nhưng thực tế thì chẳng rõ gì cả. “Trí thức” là một trong những từ ngữ hay khái niệm đó.
Cuối tháng 11 năm 1989, tôi tình cờ gặp luật sư Nguyễn Mạnh Tường ở ngoại ô Paris. Chúng tôi cùng trọ trong một cái nhà để xe (garage) được biến cải thành chỗ nghỉ chân cho khách phương xa. Đó là lần đầu tiên ông được những người bạn cũ ở Pháp can thiệp để trở lại thăm bạn bè ở Paris.
Chúng tôi tâm sự tương đắc suốt hai buổi tối. Tôi đã ghi lại cuộc hạnh ngộ hôm đó và những gì biết về ông đăng trên nguyệt san Độc Lập số tháng 12/1989 tại Đức, về sau được trích in lại trong cuốn “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương” (California, 1990). Ông kể về cuộc đời hơn 40 năm bị bầm dập trong nước và nói nhiều về thái độ và tư cách sống của một người có học trong chế độ cộng sản.
Hôm chia tay, ông tặng tôi một cuốn sách với mấy dòng chữ: “À l´ami … avec mes meilleurs souhaits! Puisse-t-il conserver toujours son respect de l’honeur de l’intellectuel, son amour de la patrie et son goût de recherches!” (Tạm dịch: “Tặng anh bạn … với những lời chúc tốt đẹp nhất của tôi. Ước gì anh luôn giữ được lòng trọng danh dự của người trí thức, luôn giữ được lòng yêu tổ quốc và sở thích nghiên cứu”.
Luật sư Tường nói tới danh dự của người “Trí thức”. Theo ông, “Trí thức” là người có danh dự và biết bảo vệ danh dự của mình (danh dự đó từ đâu mà có, lại là một chuyện khác). Điều ông nói có dây mơ rễ má với mô hình Quân Tử của Nho học: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. (Giàu sang không đổ đốn, nghèo hèn không nhụt chí, không khuất phục trước uy quyền bạo lực – Mạnh Tử).
Giáo sư Nguyễn Khắc Dương, cựu quyền khoa trưởng Văn khoa Đại học Đà Lạt, thì lại nói: Việt Nam, hay rộng ra, Á Đông chỉ có Kẻ Sĩ với lý tưởng thành nhân, chứ không có “Trí thức” quan tâm tới việc tìm kiếm chân lý khoa học như ở Âu châu. Tóm lại, theo giáo sư Dương, Kẻ Sĩ là hiền nhân (homme de bien), “Trí thức” là bác học (homme de science).
Luật sư Tường nói tới cái Đức, giáo sư Dương tới cái Tài của một loại người. Nhưng suy tư của hai người vẫn còn ở trong truyền thống của một Nho gia. Nho gia là người không ngừng mở mang kiến thức và không ngừng tu đức để hoàn thiện bản thân.
Một dạo, 23 ông đảng viên già bên Trung Quốc ký tên vào một lá thư yêu cầu Cộng đảng cầm quyền cho tự do báo chí. Cùng lúc, bên Việt Nam 13 vị có bằng cấp cao trên mạng “Bô-xít” cùng ký vào một lá thư yêu cầu Cộng đảng ở Hà Nội ngừng khai thác Bô-xít. Truyền thông người Việt hải ngoại tức tốc ban cho các vị trong hai nhóm đó danh hiệu “Trí thức”. Hồi đó, giám mục Nguyễn Thái Hợp cũng được khen là “Trí thức”, khi ông yêu cầu toà án Đà Nẵng hoãn xử vụ chính quyền đuổi dân cướp đất ở Cồn Dầu.
Những trường hợp trên đây cho thấy, hễ ai có chút bằng cấp hoặc có một chút địa vị xã hội mà nói được một câu hay làm được một việc gì hợp ý thiên hạ, thì người ta gán cho nhãn “Trí thức”.
Cũng vì sự quyến rũ và bở ăn của nhãn đó, nên các quan đồng chí ở Việt Nam đua nhau sắm bằng cấp giả. Khiêm tốn như đồng chí thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì chút cử nhân nội hóa, máu mặt như các đồng chí Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở Văn hóa Phú Thọ, Cao Minh Quang, thứ trưởng Bộ Y tế, thì phải là tiến sĩ ngoại mới toại nguyện! Nhạc sĩ Tô Hải báo động, chưa bao giờ giáo sư, tiến sĩ đầy dẫy trong các tổ chức nhà nước như hiện nay. Xưa ra ngõ gặp anh hùng, nay ra đường dẫm lên tiến sĩ!
Người ta sắm bằng cấp, trước mắt để được thăng quan tiến chức và thêm tiền, quan trọng hơn là để được ngồi vào bàn “Trí thức”. Là vì họ nghĩ rằng, “Trí thức” đơn giản là người có bằng cấp. Đấy cũng là lối nghĩ phổ thông hiện nay, không chỉ nơi người Việt. Các kiểu nói phổ cập như: Thì cùng một đám trí thức với nhau cả! Giới trí thức trong nước…! Ông đó là một đại trí thức (vì ông có nhiều bằng cao) v.v. phản ảnh lối nghĩ đó.
Ở đây, đúng ra phải nói như thế này: “Thì cùng một đám học thức với nhau cả”, “Giới học thức trong nước” hoặc nếu muốn nhấn mạnh, đó là những người có bằng cấp cao thì “giới khoa bảng trong nước”.
Đó là một ngộ nhận hoặc hiểu sai quan trọng về khái niệm “Trí thức”.
Hiện nay, không riêng gì người Việt, báo chí phương Tây nhiều khi cũng dùng tĩnh từ “trí thức” (intellectuel) một cách đại trà, không phân biệt, để chỉ chung lớp người có học thức hay học vấn cao. Nhưng, khi dùng từ này như một danh từ, để xác định một ai đó là người ‘Trí thức‘, thì ý nghĩa của nó không còn đơn giản.
Thật ra, “Trí thức” trước hết là một lối sống. Nó là một sự chọn lựa hay thái độ sống, như giáo sư Nguyễn Hưng Quốc nhận định: “Thông minh là do phú bẩm, kiến thức là do thủ đắc, kỹ năng là do rèn luyện, trí thức là do chọn lựa”.
Yếu tố quyết định nơi thái độ sống này là sự dấn thân cho một mục tiêu cao đẹp, chứ không phải tấm bằng.
Nguồn gốc và sự phát triển của khái niệm “Trí thức”
“Trí thức” là chữ người Việt dùng để chuyển nghĩa chữ “Intellectuel” của Pháp. “Trí thức” bước vào Việt Nam trong thời gian giữa hai thế chiến, với việc Pháp thay thế nền Nho học bởi Tân học.
Tại Pháp trước năm 1894, là năm xảy ra vụ án khiên cưỡng đối với đại uý Alfred Dreyfus gốc Do-thái, từ ngữ Intellectuels cũng đã xuất hiện đây đó, nhưng chẳng mang nghĩa gì đặc biệt. Việc toà án Paris bất chấp luật pháp quy kết Dreyfus vào tội gián điệp, đã tạo ra nhiều giao động trong dư luận Pháp. Cái án đó chỉ là giả tạo. Thật ra là vì Dreyfus và đồng bạn quảng bá và kêu gọi dân chủ. Cũng giống như bản án “trốn thuế” của Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải ở Việt Nam!
Đặc biệt sau khi nhà văn Émile Zola viết lên bản cáo trạng (“J´ accuse”, 1898) về vụ xử án kia, thì xã hội Pháp phân thành hai chiến tuyến. Phía theo và phía chống Dreyfus kịch liệt tấn công nhau. Những cuộc sát phạt sau đó không còn hạn chế trong vòng Paris nữa, mà vượt cả biên giới Pháp ra các nước Âu châu.
Phe theo Dreyfus từ đây dùng chữ “Intellectuels” làm biểu tượng nhận diện phe mình. Họ tự gọi mình là “Intellectuels”. Họ tung lên khẩu hiệu đó trong mọi cuộc tranh luận, kẻ nó lên cờ, viết lên báo. Họ ra “Manifeste des intellectuels” (Tuyên Ngôn Của Các “Trí thức”) để cổ xúy cho các mục tiêu họ theo đuổi: “Dân chủ”, nghe theo “lương tâm”, chỉ tuân phục thứ “chân lý” có nền tảng “khoa học”. Họ còn tự nhận mình là đệ tử trung thành, đấu tranh cho”nhân quyền” đã được xướng lên từ cuộc cách mạng 1789.
Tóm lại, thoạt kỳ thủy “Trí thức” đồng nghĩa với tiến bộ, biết điều, chân chính, dân chủ, tự do.
Đối lại, phe “lề phải” theo nhà nước lúc đó ra sức chửi đám “Trí thức” là bọn “phản quốc”, bọn “Do-thái”, “vô tài bất tướng”, “đĩ điếm”, “không tim thiếu óc”, “vô bản năng”…
Như đã nói, cuộc tranh luận đã vượt ra ngoài biên giới Pháp. Ở Pháp, dù phe “lề phải” đa số không ngừng đập “Trí thức”, nhưng họ cũng không để “mất trí” trong cuộc tranh luận. Nghĩa là họ vẫn công nhận nét đẹp đâu đó của “intellectuels”, khi họ vẫn tự nhận mình mới là “Trí thức” thứ thiệt, chứ không phải như kiểu của đám Dreyfus!
Đối lại, ở nước Đức bên cạnh, ít ra cho tới năm 1945, chữ Intellectuels không bao giờ mang nghĩa tích cực. “Trí thức” ở đây mang nội dung hoàn toàn tiêu cực. Nó là quan điểm nối dài của cánh “lề phải” bên Pháp.
Thời Đức quốc xã (*) của Hitler, “Trí thức” bị cho là bọn “vô cảm”, “Do-thái”, “ảo tưởng”, “bất tài vô trí”, đầu óc bị nhiễm độc vì ăn phải bã dân chủ và chủ hòa của báo chí Do-thái, nên cần phải bị khử trừ. Hitler đã có lần giả mếu máo trước hàng vạn “bò đỏ” của ông: Rất tiếc là chúng ta phải cần Trí thức, vì nay mai chúng có thể bị tiêu diệt hết, chẳng còn mống nào để mà xem! Tóm lại, theo Đức quốc xã, “Trí thức” là thứ ngoại lai, không phải của Đức (undeutsch). Đức quốc xã dùng khái niệm này như một dụng cụ để diệt đối thủ, diệt những ai mà chúng không thích.
Sau thế chiến II, các chính thể dân chủ ở Đức đã cố gắng tìm lại ý nghĩa cho các khái niệm đã bị Đức quốc xã xuyên tạc. Số phận Intellectuels nhờ đó hết còn tiêu cực. Nhưng để tránh từ ngữ “ngoại lai” này, người Đức thường thay thế nó bằng chữ “Geistiger” (người trí tuệ, người có đầu óc).
“Trí thức” trong thế giới cộng sản
Chuyện kể: Đảng ra lệnh cho nhà nước xây một trung tâm sinh hoạt. Căn lầu 4 tầng “hoành tráng” không kém gì lâu đài “Con ngỗng trắng” (Neuschwanstein, nơi mỗi năm có cả triệu du khách tới tham quan, do ông vua cuối cùng của bang Bayern xây trên đỉnh núi tại miền Nam nước Đức trong thế kỷ 19). Tầng dưới căn lầu được dành cho các cháu nhi đồng, tầng kế cho các cán bộ, tầng ba cho các trí thức văn nghệ sĩ nhà nước, và tầng trên cùng cho các lãnh đạo Đảng và nhà nước. Nhưng, cũng như lâu đài Ngỗng Trắng ở Đức, trung tâm sinh hoạt kia không có một cầu tiêu nào cả.
Trước thắc mắc của nhân dân, khâu thiết kế giải thích: Tầng trệt không cần cầu tiêu, vì các cháu đã có bô đựng; tầng của cán bộ cũng không cần, vì bọn này suốt ngày lo đi cải thiện ở đâu, chứ chẳng bao giờ có mặt ở sở đâu; tầng cho trí thức văn nghệ sĩ cũng không cần, vì bọn này khi cần chúng ỉa lên mặt nhau, chứ đâu vào nhà xí; và tầng lãnh đạo lại càng không cần, vì đã có đám bưng bô đứng chực sẵn.
Câu chuyện có một điểm rất lạ: Dành cho giai cấp trí thức văn nghệ sĩ cả một tầng lầu! Một quan điểm hoàn toàn đi ngược lại giáo lý cộng sản chính thống. Cộng sản coi “Trí thức” là thành phần không sản xuất, chây lười lao động, dễ chao đảo, quen thoả hiệp, chủ bại, tiểu tư sản phản động, nguỵ và với đủ mọi thứ biếm ngữ đê tiện khác. Nói tóm lại, “Trí thức” là một cái bãi – hay nói đúng bài bản theo Lênin, là một giai cấp: Giai cấp “Trí thức” , nơi đó dùng để đổ tất cả những thứ rác rưởi bị xem là phản động chống lại Đảng, chống lại giai cấp vô sản, chống nhà nước của Đảng Cộng sản.
Cái nhìn tiêu cực về “Trí thức” được khởi đi từ Lênin. Ông này học được luận điệu của đám “lề phải”, khi đang chạy trốn nhà nước Nga ở Âu châu. Và ông đã biến luận điệu đó thành giáo lý cho phù hợp với giáo thuyết đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản.
Nhưng luận điệu của Lenin cũng chỉ là một thứ bình phong khiên cưỡng. Không có giới học thức bày đường chỉ lối, thì lấy ai mà vận dụng cơ bắp nông dân, lấy ai mà bày đường chỉ lối cách mạng cộng sản!
Nhà văn Phạm Thị Hoài có một nhận định thần sầu: “Cách mạng vô sản ở Việt Nam là một cuộc cách mạng do một nhóm trí thức lãnh đạo một nhóm nông dân đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân”! Nhưng bà Hoài cũng lầm to. Khi cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam được phát động, thì giai cấp công nhân chưa có mặt, và người ta đấu tranh là cho quyền lợi của “giai cấp vô sản”, chứ đâu cho các ông bà công nhân! Các khẩu hiệu chỉ là bánh vẽ.
Nhưng “giai cấp vô sản” là ai? Chẳng là ai cả! Đấy chỉ là miếng vải đỏ của mấy tay đấu bò Tây-ban-nha, nhằm kích động thú tính nơi con người. “Độc tài vô sản” có nghĩa là độc tài đảng trị. “Quyền lợi của giới vô sản” là quyền lợi của đảng. Mà đảng là ai? Rốt cục thì mọi lợi quyền đều vào tay nhóm lãnh tụ có học!
Chính sách truy diệt Trí thức kia được cụ thể hóa ở Việt Nam với khẩu hiệu “Trí, phú, địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”; ở Cam-bốt qua Pôn-pốt với trên dưới hai triệu nhân mạng, đặc biệt là những người biết chữ. Ở Nga với 25 ngàn trí thức Ba-lan bị Stalin ra lệnh thủ tiêu và vùi chung ở cánh rừng Katyn. Ở Tàu với hàng triệu nạn nhân đặc biệt trong cuộc “cách mạng văn hóa”, là vì theo Mao, “Trí thức” không bằng cục phân, phân còn dùng được để bón ruộng! Một vài thí dụ tiêu biểu.
Tóm lại, đối với thành phần được/bị gọi là “Trí thức”, Cộng sản và Đức quốc xã có cùng một chính sách như nhau, dù ngôn từ khẩu hiệu có hơi khác.
“Trí thức” trong quan niệm của J.P. Sartre
Như đã nói, nước Pháp là nơi đẻ ra “Trí thức”, và trong cuộc tranh luận dai dẳng về từ ngữ này, người Pháp đã không nản chí như người Đức và đã không mất trí như Đức quốc xã và Cộng sản trong nỗ lực kiếm tìm nội dung cho khái niệm này.
Một người Pháp được biết nhiều trong nỗ lực này là triết gia Jean Paul Sartre. Sartre bảo, “Trí thức” là “sản phẩm quái gỡ của những xã hội quái lạ” (monstrueux produit des sociétés monstrueuses). Như vậy theo ông, “Trí thức” là những Quái vật (monstres), vì họ chẳng giống ai. “Trí thức” có thể xuất hiện tùy vào hoàn cảnh đặc thù của từng xã hội. Họ là con đẻ của từng xã hội, nhưng không nhất thiết là sản phẩm của xã hội đó. Tại sao?
Vì họ vừa là một thành phần của “quần chúng nhân dân”, nhưng đồng thời lại không là quần chúng nhân dân; họ có thể xuất thân từ đám “đại gia” nhưng đồng thời tách khỏi đám đại gia (thất đức). Họ là thành phần ngô chẳng ra ngô, khoai chẳng ra khoai. Không ai yêu cầu hay ép họ ra nông nỗi như thế. Mà tự họ muốn thế, họ tự cảm thấy bị thôi thúc làm quái vật.
Như vậy, quái vật, trước hết, trong hai tính cách: “Trí thức” là một người của quần chúng, ở giữa quần chúng, nhưng lại không giống quần chúng, vượt ra khỏi quần chúng. Thứ đến, “Trí thức” là quái vật, vì chẳng ai hiểu được họ: Trong lúc họ làm những điều mà họ cho là phải làm, thì chồng, vợ, con, đồng nghiệp lại chửi họ là thứ “ăn cơm nhà vác ngà voi”, thứ làm “chuyện ruồi bu”, là “những tên ngu” tự chuốc họa vào thân!
Song nếu gặp vận thang mây, những quái vật kia sẽ được phong thánh, trở thành những quái vật thánh (Sartre: monstres sacrés), không ai còn dám đụng đến, như kiểu tổng thống De Gaulle đã trả lời, khi cơ quan an ninh xin phép bắt tên triết gia chuyên khuấy rối: Không thể bắt một người như Sartre được! Họ có thể lại được giải Nobel, như ông Lưu Hiểu Ba vừa rồi, để may ra thóat tù, thóat chết. (Trước đây Sartre cũng được trao giải, nhưng ông đã không nhận, với lập luận rằng, nếu nhận, ông sẽ được/ bị đưa vào ngồi chiếu trên, không còn được ngồi bệt xuống đất với quần chúng nữa).
Trái lại, nếu không may, những quái vật đó sẽ bị bịt miệng, bị “quần chúng tự phát” đánh gẫy xương, vỡ đầu hay bị tù vì tội “lợi dụng dân chủ”, “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” hoặc kẹt quá thì “tội trốn thuế”, thậm chí có khi tự dưng rơi từ lầu cao xuống đầu, để về gặp các bác Mác, Lê, Mao…
Đó là vài điểm khác người của “Trí thức”. Nhưng “Trí thức” từ đâu ra và khi nào thì được gọi là “Trí thức”?
Để trả lời, trước hết phải hiểu Sartre quan niệm về con người. Có thể tóm tắt tư tưởng của ông như sau: Con người là một “dự án” (projet) sáng tạo, luôn hướng tới một cái gì còn trong tương lai, chưa có. Nhờ qua nỗ lực luôn vươn tới này, mà con người mới trở thành người.
Chẳng hạn: Người thợ luôn tìm cách để làm sao có được mức lương cao hơn; nông dân cố gắng lam lũ để tương lai đỡ cực; người làm khoa học luôn đi tìm những khám phá mới; người dân trong một chính quyền áp bức luôn tìm cách để có được tự do… Mà muốn đạt được cái chưa có đó, con người phải có khả năng vượt ra khỏi tình trạng hiện tại, để dùng đầu óc đưa mình hướng tới những mục tiêu nhắm tới. Và, dưới ánh sáng của cái mục tiêu nhắm tới đó, họ “phủ định” hiện tại (không thể sống mãi như thế này được!), họ đánh giá hiện tại (một xã hội bóc lột!), đồng thời nghĩ ra phương cách làm sao để thóat ra tình trạng đó.
Theo Sartre, con người làm việc này (phủ định, đánh giá, tìm phương cách giải quyết) trong suốt mọi giây phút cuộc đời mình, không ngưng nghỉ. Hành động liên tục phản kháng hiện tại và tìm cách đạt tới cái chưa có đó là minh chứng cụ thể nhất cho sự hiện hữu của con người. Ông nói: “Cách học hỏi duy nhất là thắc mắc, là đặt lại vấn đề. Đó cũng là cách duy nhất để người trở thành người”.
Trên nguyên tắc, theo Sartre, bất luận ai, mọi người đều có khả năng nghi ngờ thực tại và tự đặt vấn đề để đi tới. Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng nghĩ ra được phương cách để giúp mình thực hiện ước vọng. Ở đây, sự phân công xã hội đã tạo ra một nhóm người có khả năng nhìn ra được những phương cách để đạt mục tiêu, đó là thành phần mà ông gọi là những “Kỹ thuật gia về kiến thức thực tế”, mà nay ta có thể nói là thành phần tốt nghiệp đại học, gồm các kỹ sư, các nhà khoa học, bác sĩ, luật sư, nhà giáo…
Cứ theo lập luận của Sartre thì sự phân công xã hội đã tạo ra ba hạng người: thành phần lãnh đạo, tầng lớp kỹ thuật gia và công nhân. Thành phần lãnh đạo đặt ra mục tiêu (chẳng hạn cần điện nguyên tử), các kỹ thuật gia nghĩ ra các kế hoạch xây dựng nhà máy và tầng lớp công nhân thực hiện các kế hoạch đó.
Theo Sartre, “Trí thức” chỉ xuất thân từ thành phần kỹ thuật gia. Ở điểm này, lý luận của Sartre hơi mâu thuẫn. Một mặt ông bảo “Trí thức” xuất thân từ thành phần kỹ thuật gia – là thành phần có học, nhưng mặt khác, ông vẫn giữ quan điểm là ai ai cũng có thể trở thành “Trí thức”. Nhưng, vẫn theo ông, kỹ thuật gia chưa hẳn là “Trí thức”. “Trí thức” chỉ xuất hiện, khi nhà kỹ thuật ý thức được những mâu thuẫn (xã hội) và dám đứng dậy đặt vấn đề để thóat ra khỏi tình trạng mâu thuẫn đó, chứ không nhắm mắt làm ngơ, chấp nhận thỏa hiệp hay nín thở qua sông.
Như vậy, theo Sartre, “Trí thức” là những tác nhân chính tạo biến chuyển, đưa xã hội và nhân quần đi tới; vai trò của họ là “chỉ ra, chứng minh, lột mặt nạ và dùng chất cường toan phê phán phá đổ đi những huyền thoại lẫn linh vật”.
Tóm lại, định nghĩa của Sartre: “Trí thức” là một số đông người nhờ công việc tri thức của mình mà đạt được một sự nổi tiếng nào đó, và họ đã lạm dụng sự nổi tiếng này để bước ra khỏi lãnh vực chuyên môn của mình để phê phán xã hội và trật tự hiện tại vốn được tạo ra nhân danh một nhân sinh quan mang tính toàn cầu và giáo điều”.
(Ở đây chỉ bàn tới lý luận của Sartre về “Trí thức”, không bàn đến con người với một số hành vi phản “Trí thức” cụ thể của Sartre).
Đi tìm một nội dung thích hợp: “Trí thức” là người đấu tranh bảo vệ nhân phẩm
Sartre vừa đưa ra mẫu “Trí thức” (tạo biến chuyển xã hội) như thế thì, đùng một cái, xẩy ra biến cố 1968 ở Pháp. Và biến cố này đã làm đảo lộn nhận thức của ông. Cuộc biến động 68 tại Pháp như cơn sóng thần làm thay đổi tận căn xã hội Pháp trên nhiều lãnh vực, nhưng biến động đó lại không do một ông bà được gọi là “Trí thức” (nhà văn, nhà thơ, triết gia, khoa học gia…) nào tạo ra cả. Mà chủ yếu là do đám đông sinh viên, học sinh biểu tình trên đường phố đưa tới!
Sartre hiểu ra, không thể có loại “Trí thức cũ”, nghĩa là không thể có được hạng người thông suốt được mọi mặt của xã hội và cuộc sống, để từ đó phê phán, đưa ra lời giải đúng đắn cho mọi vấn đề. Vì thế, giờ đây ông nói tới một loại “Trí thức mới”. Theo ông, đây là những chuyên viên, những người có thẩm quyền trong những lãnh vực chuyên môn. Xã hội hiện đại và hậu hiện đại ngày nay càng ngày càng chuyên môn hóa rất cao, không thể có được loại người thông biết mọi chuyện được. Mà đã là chuyên viên thì không thể ai ai cũng là “Trí thức” được.
Một thay đổi nữa nơi Sartre do ảnh hưởng biến cố 68 là quan niệm “Trí thức” phải gần dân, luôn phải trong dân, theo dân. “Trí thức cũ” có thể gần dân hoặc xa dân, có thể ngồi trong tháp ngà mà lên tiếng. Nhưng “Trí thức mới” thì phải dứt khóat đội nón xuống đường cùng với dân oan đòi lại đất đai nhà cửa, cùng với sinh viên hô lên “Hoàng sa Trường Sa là của Việt Nam!”
Hẳn nhiên, cả hai quan niệm “Trí thức cũ” và “mới” của Sartre đều bất cập. Không thể có một hạng người có tri thức toàn diện, mà cũng chẳng có hạng “Trí thức” luôn phải ở trong dân, luôn phải bám sát theo dân thì mới có thể đạt đích được.
Nhưng, dựa trên quan điểm của Sartre và quan điểm chung, có ba yếu tố nổi bật nơi người “Trí thức”: Tri thức (Connaissance/Wissen), đức hạnh (Vertu/Tugend) và sự dấn thân (Engagement).
Tri thức (Tài) trước đây gần như chỉ có được thông qua trường lớp. Nó dính dáng nhiều với tầng lớp xuất thân đại học và khoa bảng, nhưng hẳn nhiên không chỉ hạn chế trong hạng người đó. Xã hội hậu hiện đại hiện nay với cuộc cách mạng truyền thông và sự phổ cập nền giáo dục đang dần dần lấy đi nền tảng bằng cấp của lớp người học thức cổ điển.
Trước đây chỉ có thứ truyền thông chữ viết, nên các cuộc tranh luận chỉ giới hạn trong một thành phần ưu tuyển và có học nào đó, và xem ra chỉ có giới học cao hiểu rộng mới là tác nhân tạo ra những thay đổi xã hội qua việc lên tiếng phản bác thực tại và mở lối tương lai. Nay tác nhân tạo chuyển động xã hội có thể là các tổ chức xã hội dân sự (Nhân quyền quốc tế, Tổ chức Xanh…) hoặc màn ảnh truyền hình, đặc biệt mạng lưới vi tính (Internet, social media).
Chữ viết chuyển sang hình ảnh. Độc quyền của một nhóm chuyển sang tập thể mọi giới. Chỉ cần tung lên tấm ảnh một linh mục bị bịt miệng khiến cả một chế độ chùn tay. Hình ảnh em bé tị nạn người Syria trôi dạt vào bờ biển trên mạng xã hội, đủ làm cả thế giới rúng động. Chỉ cần một nhấn nút trên Facebook là hàng ngàn sinh viên, học sinh Iran xuống đường chống lại gian lận bầu cử.
Sự phổ thông hóa nền giáo dục đại học làm cho yếu tố bằng cấp nơi “Trí thức” càng thêm mờ nhạt. Kiến thức ngày nay không còn là độc quyền của trường ốc nữa. Internet cũng có thể cung cấp cho một người những kiến thức tổng quát và chuyên môn không thua gì nơi đại học. Do đó, giới hàn lâm hiện nay có khuynh hướng nhấn mạnh tới đức hạnh và sự dấn thân, không còn chú ý nhiều tới tri thức. Nhưng dấn thân vì lý do gì và ở lãnh vực nào, thì lại là chuyện không đơn giản.
Ở Đức, người ta nói đến hai mẫu “Trí thức”: Lý Thuyết (Theoretiker) và Đức Hạnh (Tugend). Người Lý Thuyết nhìn thấy sự kiện; người Đức Hạnh nhìn thấy con người. Qua vụ Mỹ đánh Iran chẳng hạn, “Trí thức” lý thuyết thấy: Một cuộc chiến không cân sức, tàn bạo và phá hoại, chống lại một bạo quyền, thấy luật quốc tế bị coi thường; “Trí thức” đức hạnh trái lại thấy: Cảnh tang thương chết chóc của những người dân Iran vô tội, họ bị mất thân nhân, nhà cửa, tài sản…
Làm sao để nối hai cái nhìn đó lại? Làm sao để có được một lý do và lãnh vực dấn thân phổ quát mà không sợ sai, sợ lầm do ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, thời đại hay ý thức hệ?
Và suy tư đã đưa người ta đến niềm tin vào khái niệm Nhân Phẩm.
Theo đó, người Trí Thức, bất luận với tên gọi nào, là kẻ sẵn sàng bất chấp nguy hiểm bản thân, dám dấn thân lên tiếng, khi thấy phẩm giá con người – bất luận hạng người nào – bị xúc phạm, chà đạp, khinh miệt. Bởi vì chung quy lại, mọi chế độ chính trị chân chính, mọi luật pháp đúng đắn, mọi tôn giáo chân thật, kỳ cùng ra, đều hướng tới một mục tiêu bản lề: Bảo vệ và phát huy nhân phẩm, giúp thăng hoa con người.
Như vậy, chúng ta có thể tạm định nghĩa Trí Thức với những yếu tố cấu thành như sau:
Trí Thức là người:
1) có được một sự nổi tiếng nào đó qua sinh hoạt tri thức của mình;
2) nhờ sự nổi tiếng này họ sẵn sàng chấp nhận nguy hiểm bản thân, lên tiếng phê bình, phản kháng lại thực tại mâu thuẫn xã hội đương thời;
3) nhưng tiếng nói của họ phải vượt lên trên ảnh hưởng phe đảng chính trị, cũng như vượt lên trên tầm nhìn hạn chế của một chuyên viên, và
5) luôn với một mục tiêu rõ rệt trước mắt: Đấu tranh cho phẩm giá con người.
Ghi chú:
(*) Đức Quốc xã, tức Nazi, viết tắt của chữ Nationalsozialistisch. Tác giả Phạm Hồng Lam dùng cụm từ “Tộc-xã”, với lời giải thích như sau:
Hitler lập ra đảng Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei (NSDAP: Đảng Công Nhân Dân Tộc Xã Hội Chủ Nghĩa Đức). Chương trình hành động và ý thức hệ của Đảng này là Nationalsozialismus (gồm hai yếu tố: Nationalismus = chủ nghĩa dân tộc, đề cao chủng tộc Arian; chữ Nation ở Đức vốn có nghĩa là Dân Tộc, chứ không phải Quốc Gia; và yếu tố Sozialismus = đi theo Sozialistisch = đường lối xã hội chủ nghĩa, chứ không theo Sozial = đường lối xã hội (dân chủ) thông thường. Vì thế, tôi dịch National-sozialistisch là Tộc-xã, trong đó chữ Tộc nói lên khía cạnh đề cao chủng tộc.
Tuy nhiên, nhiều người hiểu cụm từ “tộc xã” là “công xã thị tộc”, tức thời Công xã nguyên thủy, là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử phát triển của loài người, kéo dài hàng triệu năm. Do vậy, để người đọc hiểu đúng ý tác giả, trong bài này và nhiều bài khác, chúng tôi thay thế cụm từ “tộc xã” của tác giả, thành cụm từ “Đức quốc xã”.
Tham khảo:
– Károly Méhes, Die Intellektuellen und Europa – ein intelligentes Europa.
– Dietz Bering, “Intellektueller”: Schimpfwort – Diskursbegriff – Grabmal?
– Barbara Winken, Die Intellektuelle: gestern, heute, morgen.
– Dorothea Wildenburg, Sartres “heilige Monster”.
Tất cả đăng trong Aus Politik und Zeitgeschichte, số 40/2010. Các trích dẫn đều từ các tài liệu thượng dẫn.
Nguồn: Tiếng Dân
